Giới thiệu về in lưới
Giới thiệu về in lưới, 83489, Minhnhân Ngành In Blog MuaBanNhanh
Mô phỏng nguyên lý in lụa

In lụa thực hiện theo nguyên lý giống như in mực dầu trên giấy nến[2] theo nguyên lý chỉ một phần mực in được thấm qua lưới in, in lên vật liệu in bởi trước đó, một số mắt lưới khác đã được bịt kín bởi hóa chất chuyên dùng.
Kỹ thuật này có thể áp dụng cho nhiều vật liệu cần in như nilông, vải, thủy tinh, mặt đồng hồ, mạch điện tử, một số sản phẩm kim loại, gỗ, giấy... hoặc sử dụng thay cho phương pháp vẽ dưới men trong sản xuất gạch men.
Kỹ thuật này được Châu Âu sử dụng vào năm 1925 với việc in trên giấy, bìa, thuỷ tinh, tấm kim loại, vải giả da...
Nhưng, hơn 1000 năm trước "người ta phát minh ra rằng sợi tơ khi kéo căng trên một khung gỗ, với hình ảnh khuôn tô gắn phía dưới khung bằng keo hồ có thể dùng để sao chép các hình ảnh nhiều lần trên nhiều vật liệu khác nhau bằng cách phết mực xuyên qua các lỗ tròn khuôn tụ".
Những công trình nghiên cứu sử dụng vải tơ làm lưới in sau đó được tiến hành tại Pháp và Đức trong khoảng thập niên 1870. Sau đó tại Anh Quốc, vào năm 1907, Samuel Simon đã sáng chế ra quá trình làm lưới bằng các sợi tơ. Năm 1914, tại San Francisco, California, phương pháp in lưới nhiều màu được John Pilsworth phát triển.
Phân loại kỹ thuật in lụa
- Theo cách thức sử dụng khuôn in, có thể gọi tên in lụa theo các kiểu sau:
- In lụa trên bàn in thủ công
- In lụa trên bàn in có cơ khí hóa một số thao tác
- In lụa trên máy in tự động
- Theo hình dạng khuôn in, có thể phân làm hai loại:
- In dùng khuôn lưới phẳng
- In dùng khuôn lưới tròn kiểu thùng quay
- Theo phương pháp in, có tên gọi:
- In trực tiếp: là kiểu in trên sản phẩm có màu nền trắng hoặc màu nhạt, màu nền không ảnh hưởng đến màu in
- In phá gắn: là kiểu in trên sản phẩm có nền màu, mực in phải phá được màu của nền và gắn được màu cần in lên sản phẩm, và
- In dự phòng: là in trên sản phẩm có màu nhưng không thể dùng kiểu in phá gắn được
Kỹ thuật
Ví dụ in lụa: Cho dù in thủ công, bán thủ công hay thực hiện bằng máy thì kỹ thuật in lụa cũng bao gồm những công đoạn chính như sau: làm khuôn in; chế tạo bàn in, dao gạt; pha chế chất tạo màu, hồ in; và in.
Làm khuôn in
Khuôn in có thể làm bằng gỗ hay kim loại, trên đó được căng tấm lưới đã tạo những lỗ trống để mực in có thể chảy qua trong quá trình in. Quá trình tạo những lỗ trống được gọi là "chuyển hình ảnh cần in" lên khuôn lưới.
Thời gian đầu thợ in thường dùng phương pháp chuyển trực tiếp bằng cách vẽ lên lớp nến trắng, vẽ trên lớp đất sét hay vẽ lên lớp dầu bóng nhưng về sau người ta thường dùng hơn với phương pháp gián tiếp như là vẽ trên giấy nến hoặc là ngày nay đa số đều dùng phương pháp cảm quang.
Vẽ trên lớp nến trắng là kỹ thuật tạo lỗ trống của lưới in bằng cách dùng bút gỗ hoặc tre khắc hoa văn lên một tấm lưới đã được nhúng vào dung môi nến nóng chảy và làm nguội.
Vẽ trên lớp đất sétlà kỹ thuật tạo lỗ trống của lưới in bằng cách dùng bút gỗ, tre hoặc kim nhọn khắc, đục lỗ theo hình dạng hoa văn trên một tấm lưới đã được nhúng vào hồ đất sét đã làm khô.
Vẽ trên lớp dầu bóng là kỹ thuật tạo lỗ trống của lưới in bằng cách dùng bút lông vẽ hình dạng hoa văn trên một tấm lưới đã được quét một lớp dầu bóng và làm khô. Sau khi vẽ nhiều lần sẽ tạo những lỗ trống cần thiết trên bề mặt lưới.
Vẽ trên giấy nên là phương pháp gián tiếp để tạo những lỗ trống trên bề mặt lưới in. Dùng dao "khắc" hình trên giấy nến để tạo những khoảng trống cần thiết, úp mặt giấy nến đã khắc lên lưới và dùng bản ủi làm nóng chảy nến. Sau khi để nguội, những chỗ không cần thiết sẽ được nến bít lại.
Ngày nay, phương pháp cảm quangđược xem như là phương pháp tiến bộ trong việc chế tạo bản in. Với phương pháp này có thể sao chép lại các tác phẩm nghệ thuật mà vẫn giữ được tính chân thực về đường nét của nó.
Những bản in được họa sĩ vẽ mẫu thiết kế, thiết kế trên máy tính hoặc tách màu từ một tấm ảnh trên máy tính rồi in ra trên giấy can, mỗi màu được tách sẽ làm một phim tương ứng, phim sau đó được chuyển tải lên tấm lưới. Thao tác đó gọi là chụp bản.
Công đoạn chụp bản được tiến hành trong buồng tối, phim đặt lên bản lưới cùng chiều với mẫu in thật, rọi đèn. Ánh sáng của đèn sẽ xuyên qua phim và đập lên lưới.
Vì lưới trước đó đã được quét phủ dung dịch cảm quang nên chỉ những chỗ không bị cản bởi mực sẽ đóng rắn dưới tác dụng ánh sáng. Khi mang bản đi rửa, những chỗ không bị chiếu sáng sẽ bị rửa trôi tạo thành những khoảng trống, khi in mực in sẽ lọt qua những chỗ trống này và bắt vào sản phẩm cần in.
Việc lựa chọn lưới in đóng vai trò quyết định đến chất lượng in ấn, nhất là độ mịn độ nét của hình ảnh cần in. Các thông số quan trong của lưới là độ mịn của lưới (ký hiệu N(chỉ số) hay T(chỉ số)) và tỷ lệ đường kính sợi lưới và chiều rộng mắt lưới.
Thí dụ lưới ký hiệu T40 hay N40 có nghĩa là lưới này có 40 sợi/cm và 1600lỗ/cm2. Khi in trên giấy, thông thường chọn lưới có ký hiệu T90 - T140; khi in bao bì PVC: T120-T180; khi in vải T30-T100...
Những dung dịch cảm quang thường dùng trong in lưới đó là dung dịch keo Crom-Gelatin hoặc dung dịch Crom-PVA:
Dung dịch Keo Crom-Gelatin được chế tạo từ NH4)2Cr2O7 (amoni đicromat) hoặc K2Cr2O7(kali đicromat) nồng độ 3,5% được pha với keo gelatin nồng độ 20% theo tỷ lệ 1:1.
Dung dịch Crom-PVA được chế tạo với polyvinyl acetates12% thêm vào dung dịch bao gồm (NH4)2Cr2O7 hoặc K2Cr2O7 (1,5g); nước (20ml) và C2H5OH:96% (7ml) theo tỷ lệ 1:1.
Những dung dịch trên sau khi chế tạo phải được bảo quản ở nơi thích hợp vì nó là chất nhạy sáng.
Bàn in, dao gạt
Bàn in làm từ kim loại hoặc gỗ. Bàn in đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nét in được in chính xác, đều và đạt độ nét cao. Yêu cầu quan trọng nhất đối với bàn in là phẳng, chắc và có độ đàn hồi nhất định để khuôn in có thể tiếp xúc đều với mặt sản phẩm in. Trong những trường hợp khác nhau, bàn in có thể nằm ngang hay nghiêng góc để người thợ thao tác dễ dàng hơn.
Dao gạt hồ in là công cụ dùng để đẩy, phết mực màu khiến mực thấm qua lưới in, chuyển mực lên sản phẩm cần in. Gọi là dao theo thuật ngữ của thợ nhưng nó có thể làm bằng bọt biển, con lăn cao su hay đơn giản là một miếng gạt cao su.
Chất nhuộm màu và hồ in
Lưới in đã chụp bản và một sản phẩm in lụa
Những chất nhuộm màu trong in lụa là những hợp chất mà khi tiếp xúc với vật liệu khác thì có khả năng bắt màu và giữ màu trên vật liệu bằng các lực liên kết lý học hay hoá học.
In lụa thường sử dụng các chất tạo màu là các hợp chất màu hữu cơ. Có thể phân làm hai loại tan và không tan trong nước.
Chất nhuộm màu trong nước có thể là: thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuôm bazo-cation...
Chất nhuộm màu không tan trong nước có thể là: thuốc nhuộm hoàn nguyên không tan, thuốc nhuộm lưu huỳnh, pigmen, thuốc nhuộm azo không tan...
Hồ in sau khi pha trộn với thuốc nhuộm được gọi là mực in, sau khi in sẽ được gắn vào sản phẩm cần in. Do đó, tuỳ loại nhóm vật liệu cần in phải có những công thúc pha chế khác nhau.
Nhóm vật liệu in được phân các loại sau: vật liệu xenlulo, vật liệu tơ tằm, len; sợi hoá học và xơ tổng hợp; nhựa; gốm sứ; kim loại; thuỷ tinh...
Nhưng cho dù in trên chất liệu gì, hồ in cũng phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Phải đồng nhất về thành phần và lượng màu thích hợp để đạt cường độ màu mong muốn
- Độ đặc, đột nhớt, độ dính phải bảo đảm để dính được vào vật liệu in và cho hoạ tiết sắc nét
- Hồ phải tương đối bền khi bảo quản
- Một số hồ in cho vải cần có tính dễ trương nở khi hấp để "nhả" thuốc nhuộm cho vải, và không chứa các chất có thể làm hại lưới in
Lưới dùng trong in lụa có đặc điểm gì?
Lưới là một vật liệu cơ bản cấu thành khuôn in. Có rất nhiều loại lưới in khác nhau, tùy thuộc vào khung in hoặc nhu cầu sử dụng mà người ta sẽ sử dụng những chất liệu lưới phù hợp.
Chất liệu lưới
Lưới làm từ sợi tơ tằm: Đây là loại sợi từ tơ tằm có độ đàn hồi tốt nhưng độ bền không cao, khi gặp nước sợi nở nhiều. Lưới sợi tơ tằm ít bị sô lệch do các sợi lưới liên kết tương đối chặt. Loại lưới in lụa này chỉ chủ yếu dùng in trên bề mặt sứ.
Lưới làm từ sợi polyamit: Loại này có độ đàn hồi cao dễ căn chỉnh, khuôn chịu được môi trường kiềm, mức độ hút ẩm ít, khi độ ẩm 60% sợi nở 4-5%, không bị mốc, loại lưới này không bền với một số hợp chất hữu cơ và axit vô cơ.
Lưới làm từ sợi polyeste: Loại này có độ bền cơ học cao, ổn định kích thước, bền với một số hợp chất hữu cơ nhưng tính đàn hồi thấp khả năng chịu lực ma sát kém, loại lưới này chủ yếu dùng để in trên vật liệu PVC và PE.
Lưới làm từ sợi kim loại: Loại này chủ yếu là dùng sợi hợp kim đồng có độ bền cơ học cao nhưng độ đàn hồi kém loại lưới này ít đựơc sử dụng.
Độ mịn của lưới in lụa này được xác định theo số sợi/cm và mật độ mắt lưới/cm2. Lưới thô là lưới có mật độ sợi nhỏ, lưới mịn là lưới có mật độ sợi lớn. Chiều rộng của ô lưới phải lớn hơn đường kính sợi lưới từ 1,5 đến 2 lần.
Người ta thường dùng hệ số thiết diện của lưới được tính bằng tỷ số giữa độ dầy của sợi lưới trên độ rộng của lỗ lưới là diện tích tương đối của lỗ (S) và bề dày lưới là (e).
Khi dùng loại lưới có số đường lớn thì hệ số thiết diện giảm. Khi in lượng mực chuyển từ khuôn lên tờ in (Vo) bao giờ cũng nhỏ hơn kích thước của lỗ lưới (Vk) do đó hệ số truyền mực k = Vk / Vo bao giờ cũng nhỏ hơn 1.
Hệ số này phụ thuộc vào tính chất của lưới in, vật liệu in, tính chất của mực in và chế độ in. Khi số sợi lưới tăng thì hệ số truyền mực k giảm từ 0,6 tới 0,4, chiều dày của lớp mực in từ 80 đến 100mm.
Khi in ảnh tầng thứ loại lưới phải có số ô lớn hơn tần số t’ram từ 3,5 đến 4 lần, điều này đảm bảo một điểm t’ram phải nằm trên từ 3 đến 4 lỗ lưới. T’ram in lưới lụa nên dùng từ 50 đến 100 l.p.i.
Độ rỗng của lưới
Độ rộng lỗ lưới thường tương ứng với số sợi lưới:
– Lưới có số đường 100/cm có độ rộng mắt lưới là 0,06 mm, đường kính sợi lưới 0,04mm
– Lưới 110 đường/cm có độ rộng mắt lưới là 0,053 mm, đường kính sợi 0,04mm
– Lưới 130 đường/cm có chiều rộng mắt lưới là 0,04mm, đường kính sợi 0,03mm.
Độ căng của lưới
Độ căng của lưới: Khi căng lớn lên khuôn thì độ căng của lưới phải đồng đều sao cho các sợi lưới phải song song với nhau, các sợi dọc và ngang phải vuông góc với nhau. Khi in nhiều màu thì độ căng của 4 khuôn in phải bằng nhau.
Các hướng dẫn nhận biết khi chọn lưới in - lụa in
1 Màu sắc của lụa in - lưới in
Thông dụng có 2 màu trắng và vàng. Màu trắng phổ biến hơn màu vàng vì vậy giá thường rẻ hơn. Màu vàng chụp đẹp hơn vì không bị khúc xạ ánh sáng khi chụp nên hình chụp nét nhưng giá cao hơn màu trắng. Nếu công ty bạn làm các ngành cần sắc nét như in đĩa CD, in tram, in bao bì nét mãnh với các loại lụa từ 100 trở lên bạn mới phải cần dùng lụa vàng. Còn lại bạn nên mua lụa màu trắng là hợp lý.
Không phải loại đèn nào cũng chụp bản được lụa màu vàng. Nếu chụp bằng đèn neon là khó khăn lắm, chụp bằng đèn UV cũng cần phải tính thêm thời gian. Thời gian chụp bản của lụa vàng thường cao hơn gấp rưỡi hoặc gấp đôi so với thời gian chụp bản lụa trắng.
2. Chỉ số luạ in - lưới in
Chỉ số lụa là rất quan trọng trong ngành in. Bạn có thể thấy chỉ số này in chạy dọc theo mép lụa. Nếu bạn làm với các công ty quen tính theo hệ cm thì số sợi lụa/cm thì bạn dùng luôn bảng dưới đây, nếu quen tính theo hệ inch thì lấy chỉ số này nhân với 25.4 là ra.
Gợi ý về số sợi/cm tùy theo ngành sẽ là:
- In kim tuyến trên vải: 10 đến 32 sợi/cm
- In mực nước và plastisol trên vải: chọn lụa sợi từ 32 đến 61 sợi/cm. Phổ biến 49 sợi/cm.
- In tram nhuyễn trên vải: chọn lụa từ 61 đến 90 sợi/cm.Phổ biến 61, 77, 80, 90 sợi/cm.
- In giầy da: nên chọn lụa 55 đến 77 sợi/cm
- In gạch men: chọn lụa 61 và 77 sợi/cm (lưu ý đến đường kính sợi nữa)
- In giấy, nhựa, tem nhãn...: chọn lụa từ 120 sợi/cm trở lên đến 200 sợi/cm. Phổ biến 120, 140, 165 sợi/cm
3. Đường kính sợi luạ in - lưới in
Đường kính sợi cũng là 1 chỉ số quan trọng các công ty chuyên nghiệp thường đòi hỏi về đường kính này. Chỉ có 3% số người mua lụa quan tâm đên cái này. Thường thì đường kính lớn thì làm hình in thô bề mặt hơn nhưng lụa là loại tốt và bền.
Xin trích dẫn các đường kính sợi của của 1 dòng lụa Thụy sĩ như sau:
| Số sợi/cm | Đường kính (micron) |
| 7 | 500 |
| 10 | 270 |
| 25 | 120 |
| 32 | 100 |
| 49 | 80 |
| 55 | 70 |
| 61 | 60 |
| 77 | 48 |
| 80 | 55 |
| 90 | 48 |
| 100 | 40 |
| 120 | 35 |
| 140 | 35 |
| 165 | 30 |
| 200 | 30 |
Lụa của Trung Quốc ít khi thấy được chỉ số này.
4. Đô căng của lụa
Thường các lụa của Thụy sĩ, Đức, Nhật có độ căng tốt thì khoảng 15 đến 25 N
Chỉ số này chỉ có thể kiểm chứng khi có máy đo độ căng, máy này ở Việt Nam tính trên đầu ngón tay. Bạn có thể kiểm tra độ căng bằng cách kéo giãn bề xéo cụa lụa và chịu khó quan sát.
Nếu bạn muốn căng tốt thì căng nới 2 đến 3 lần thì đạt được độ căng tối đa.
5. Độ đều của luạ in - lưới in
Bằng mắt thường bạn chỉ có thể kiểm tra loại lụa kém chất lượng thôi. Bằng kính lúp bạn có thể kiểm tra được độ đều của lụa. Khi các mắt lưới đan vào nhau mà bạn soi lên kính lúp như các ô cửa số đều nhau là đẹp.
6. Chiều dài của cuộn luạ in - lưới in
Thường thì 1 cuộn lụa dài 50 mét. Tuy nhiên nhiều hãng dệt lớn thường chiều theo sợi lụa dệt ra. Bạn nên hỏi cuộn lụa dài bao nhiêu mét trước khi mua, không nên gây căng thẳng khi người bán hàng không thể đáp ứng khi bạn đòi cố định chiều dài.
7. Độ bền của luạ in - lưới in
Cái này là quan trọng nhất nhưng không kiểm tra được ngay. Chỉ có thể kiểm tra bằng sử dụng. Anh nào tốt thì sau mua tiếp không thì thôi. Tuy nhiên bạn có thể cảm giác bằng tay khi đưa lên trà theo bề mặt và kéo. Cách này phải có kinh nghiệm mới biết được.
Tiền nào vải ấy, thường thì lụa đắt tiền dùng bền hơn và tiết kiệm hơn do bền nên có thể dùng đi dùng lại. Việc sử dụng lụa rẻ tiền có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hình in mà chỉ giới chuyên gia trong ngành mới biết
Minhnhân Ngành In Chưa xác định sản phẩm bán chạy, tiêu điểm.